Di sản thừa kế của chồng được sửa chữa trong thời kì hôn nhân thì vợ có được hưởng hay không?

Luật sư ly hôn

Nói về ly hôn, người ta đề cập đến ba vấn đề chính đó là : tình cảm, tài sản và con cái. Sau những mâu thuẫn không thể thỏa thuận, anh t...

Đánh giá

Rated 4.3/5 based on 9 votes
Tư vấn trả phí

Nói về ly hôn, người ta đề cập đến ba vấn đề chính đó là : tình cảm, tài sản và con cái. Sau những mâu thuẫn không thể thỏa thuận, anh tìm đến chúng tôi với mong muốn được giải đáp những khúc mắc của hai vợ chồng bấy lâu.



Hai anh/chị đăng kí kết hôn năm 2010. Thời điểm năm 2004, anh K. được mẹ cho thừa kế một ngôi nhà và quyền sử dụng đất tại Đông Anh. Ba năm sau kết hôn, anh K. bàn bạc với vợ phá bỏ căn nhà cũ để xây dựng một căn nhà mới khang trang hơn. Đến năm 2015, hai anh chị phát sinh mâu thuẫn vì anh K. muốn thế chấp căn nhà để lấy tiền đầu tư kinh doanh nhưng chị vợ không đồng ý. Hai anh chị cùng thống nhất phân chia tài sản bao gồm: tài sản chung là 700 triệu đồng tiền mặt; còn căn nhà theo quan điểm của anh K. đó là tài sản riêng của anh nên anh chỉ đồng ý chia cho vợ phần giá trị chênh lệch giữa ngôi nhà cũ và ngôi nhà mới. Vì cá nhân anh nhận định, vợ anh đóng góp rất ít trong công việc gia đình và cũng không có việc làm phát sinh thu nhập. Nhưng vợ anh lại cho rằng ngôi nhà này thuộc quyền sở hữu của cả hai vợ chồng nên phải được chia đôi.
Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có quy định:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Còn tài sản riêng của vợ chồng được xác định theo Điều 43 Luật HN&GĐ như sau:

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Căn cứ các quy định trên, tài sản của anh và chị được xác định như sau: tài sản chung là 700 triệu tiền mặt cùng căn nhà mới xây dựng, tài sản riêng của anh là diện tích đất mẹ anh để lại.
Theo thông tin mà anh cung cấp, phần đất là do anh được hưởng thừa kế từ mẹ nên là tài sản riêng của anh nhưng căn nhà cũ mà anh được hưởng thừa kế đã bị phá bỏ và thay vào đó là một căn nhà mới khang trang hơn, căn nhà được hình thành trong thời kì hôn nhân nên trở thành tài sản chung của vợ chồng. Mặc dù chị không trực tiếp làm việc tạo thu nhập nhưng căn cứ K1Đ29 Luật HN&GĐ thì "Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”. Tuy nhiên, nếu anh K. có đủ căn cứ chứng minh công sức đóng góp lớn hơn thì tòa án sẽ căn cứ vào đó để quyết định tỉ lệ chia phù hợp....

Tư vấn trả phí

Chia sẻ cho bạn bè

Tư vấn trả phí

Bình luận

Sponsor