Không đăng ký kết hôn thì chia con như thế nào?

Luật sư ly hôn

Việc kết hôn ở việt nam chỉ được không nhận hợp pháp khi 2 người kết hôn thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân. Việc sốn...

Đánh giá

Rated 4.3/5 based on 9 votes
Tư vấn trả phí

Việc kết hôn ở việt nam chỉ được không nhận hợp pháp khi 2 người kết hôn thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân. Việc sống chung như vợ chồng, pháp luật không cấm. Tuy nhiên, sẽ là vấn đề nếu hai bên có con chung và lại chia tay. Quyền nuôi con sẽ thuộc về ai trong trường hợp này? Hãy tham khảo thông qua bài viết sau của Luật sư X.


Căn cứ:

Nội dung tư vấn

1. Dù không đăng ký kết hôn nhưng giải quyết con cái như đã đăng ký kết hôn!

Pháp luật không công nhận về mặt pháp lý cho hành vi sống chung như vợ chồng, tuy nhiên, nếu có con thì việc chia con sẽ được thực hiện như khi có đăng ký kết hôn. Việc thực hiện ở đây bao gồm nghĩa vụ, quyền với con cái lúc chung sống cũng như lúc chia tay. 
Lúc chung sống, đôi bên có trách nhiệm chăm sóc con cái, tạo điều kiện tốt nhất để con cái phát triển toàn diện. Bởi về mặt huyết thống, thì đây cũng là cha mẹ của con. Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 69, Luật hôn nhân và gia đình 2014:
Điều 69: Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ.
1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Lúc chia tay, Quyền và nghĩa vụ với con cái cũng không vì thế mà chấm dứt. Việc chia con có phần ràng buộc hơn so với chia tài sản sau khi chia tay. Cụ thể, Tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 14: Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.
2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.
Bởi vậy khi hai người không chung sống với nhau nữa thì cha, mẹ vẫn phải thực hiện quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Lúc này, quyền nuôi con được phân định dựa theo nguyên tắc thỏa thuận. Theo đó, người được nuôi con phải chứng minh được bản thân sẽ cung cấp môi trường thuận lợi nhất cho sự phát triển của con.

2. Nguyên tắc chia con sau chia tay:
Thỏa thuận quyền nuôi con
Bởi không được công nhận về mặt pháp lý, đôi bên chia con trước hết tòa sẽ tôn trọng thỏa thuận của các bên về quyền nuôi con.Theo đó, hai bên sẽ cùng nhau bàn bạc về vấn đề rằng ai sẽ là người nuôi con. Liệu rằng, con cái được ai nuôi dạy, sống bên cạnh ai sẽ được phát triển toàn diện hơn, hoặc ai có điều kiện chăm sóc, nuôi dạy hơn. 
Yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trường hợp không thỏa thuận được, đôi bên sẽ giải quyết bằng việc yêu cầu tòa án Tòa án giải quyết, việc xác định xem ai là người có quyền nuôi con sẽ dựa trên điều kiện về kinh tế đôi bên, độ tuổi con,nguyện vọng các con và các yếu tố khác.
Thứ nhất, Đối với con dưới 36 tháng tuổi:
Với độ tuổi này, việc thực hiện quyền ly hôn của vợ sẽ dẫn đến quyết định quyền nuôi con sẽ đương nhiên thuộc về người mẹ. Cụ thể, tại 
Điều 81: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:
...
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Nguyên tắc ưu tiên cho mẹ đối với con dưới 36 tháng tuổi là hợp lý. Bởi với độ tuổi này, người mẹ có đủ điều kiện cũng như phương pháp chăm sóc con tốt hơn và cũng đảm bảo được con phát triển tốt nhất.

Tuy nhiên, không phải lúc nào quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi cũng thuộc về người mẹ. Trường hợp xét thấy  người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc hai bên có sự thỏa thuận thống nhất về quyền nuôi con cho chồng thì Tòa án sẽ giao cho chồng nuôi. Như vậy, hơn bao giờ hết, sự thỏa thuận về quyền nuôi con luôn được các Tòa án tôn trọng. 
Thứ hai, đối với con trên 7 tuổi. 
Độ tuổi 7, con cái đã có thể nhận thức được mình thích ở với ai, ở với ai sẽ thỏa mái hơn thì pháp luật cũng sẽ tôn trọng quyền này của trẻ nhỏ. Bởi, việc phát triển tâm sinh lý của một đứa trẻ nó phụ thuộc rất nhiều đến môi trường sống và giáo dục. Việc chia tay có con trên 7 tuổi vì thế mà Tòa sẽ phải hỏi ý kiến, nguyện vọng của con nhỏ thể hiện dưới dạng văn bản. Quy định cụ thể tại điều 81: 
Điều 81: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:
....
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Tuy nhiên, không phải nguyện vọng của con như nào thì Tòa án sẽ theo quyết định nó, đây chỉ là một căn cứ xét rất nhỏ, bởi còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, nuôi dưỡng của các bên mà Tòa sẽ đưa ra quyết định cuối cùng.

Như vậy, bên cạnh việc cần chứng minh về nguyện vọng, độ tuổi, trường hợp nào, việc ai sẽ là người có quyền nuôi con còn phụ thuộc nhiều về điều kiện kinh tế, về tinh thần, thu nhập,...thể hiện qua sở hữu, tài sản, nơi ở ổn định, thời gian để ở bên con, chăm sóc, nuôi dưỡng con, luôn phải đặt con lên hàng đầu…
Nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ dựa vào quyền lợi của con để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Hy vọng bài viết hữu ích cho bạn !

Hãy liên hệ với chúng tôi khi Quý vị có nhu cầu tham khảo và hỗ trợ dịch vụ ly hôn nhanh0833 102 102


Tư vấn trả phí

Chia sẻ cho bạn bè

Tư vấn trả phí

Bình luận

Sponsor